Sức ép khai thác tài nguyên và chịu tải môi trường đã quá giới hạn

02/04/2026

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, mức thâm hụt sức chứa sinh thái của nền kinh tế Việt Nam đã vượt hơn gấp đôi khả năng tái tạo của hệ sinh thái tự nhiên.

Hệ sinh thái suy thoái nhanh chóng

Trong giai đoạn 2021-2025, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện khả năng phục hồi mạnh mẽ trước nhiều cú sốc toàn cầu. Bất chấp tác động kéo dài của đại dịch Covid-19, gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế và biến động địa chính trị tại nhiều khu vực, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam vẫn đạt khoảng 6,2%/năm, với mức tăng 8,02% trong năm 2025. Quy mô GDP tăng từ 346,6 tỷ USD năm 2020 lên hơn 514 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 32 trên thế giới và đứng thứ tư trong ASEAN.

Đáng chú ý, thu nhập bình quân đầu người đã đạt 5.026 USD, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tiến trình trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao. Các kết quả phản ánh nỗ lực thúc đẩy phát triển bao trùm và cải thiện hệ thống an sinh xã hội.

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ về hạn chế trong mô hình tăng trưởng hiện nay. Ảnh: ISPAE.PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ về hạn chế trong mô hình tăng trưởng hiện nay. Ảnh: ISPAE.

Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, các nghiên cứu gần đây cho thấy mức thâm hụt sức chứa sinh thái của nền kinh tế đã đạt khoảng -220%, nghĩa là tổng nhu cầu khai thác tài nguyên và hấp thụ chất thải của nền kinh tế vượt hơn gấp đôi khả năng tái tạo của hệ sinh thái tự nhiên trong nước.

Mô hình tăng trưởng hiện tại vẫn phụ thuộc đáng kể vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và sử dụng năng lượng thâm dụng. Hệ số sử dụng vốn (ICOR) của nền kinh tế vẫn ở mức 6,4 – phản ánh hiệu quả đầu tư còn hạn chế. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng chỉ khoảng 47%, cho thấy động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ mở rộng quy mô sản xuất thay vì đổi mới công nghệ. Đồng thời, biến đổi khí hậu đang gia tăng rủi ro đối với nền kinh tế. Cơn bão Yagi năm 2024 đã gây thiệt hại hơn 80 nghìn tỷ đồng, cho thấy mức độ dễ tổn thương của các chuỗi sản xuất trước các cú sốc thiên tai.

Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026-2030 của Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn, hướng tới mức hai con số mỗi năm, đồng thời nâng GDP bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030. Tầm nhìn dài hạn đến năm 2050 đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao với mức thu nhập bình quân từ 38.000 đến 45.300 USD. Các chuyên gia cho rằng việc đạt được mục tiêu phụ thuộc rất lớn vào khả năng bảo vệ và phục hồi vốn tự nhiên.

Ông Fergus McBean, Bí thư thứ nhất về khí hậu và thiên nhiên, Đại sứ quán Anh phát biểu mở đầu Hội thảo. Ảnh: ISPAE.Ông Fergus McBean, Bí thư thứ nhất về khí hậu và thiên nhiên, Đại sứ quán Anh phát biểu mở đầu Hội thảo. Ảnh: ISPAE.

Những dịch vụ hệ sinh thái quan trọng như thụ phấn tự nhiên cho cây trồng, nguồn lợi thủy sản, khả năng hấp thụ carbon của rừng hay độ phì nhiêu của đất đang chịu áp lực lớn từ hoạt động sản xuất. Việc suy giảm các dịch vụ này có thể gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế, đồng thời làm gia tăng chi phí thích ứng với biến đổi khí hậu. Nếu tình trạng suy thoái hệ sinh thái tiếp tục diễn ra, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể giảm đáng kể trong thập kỷ tới. 

Ông Fergus McBean, Bí thư thứ nhất về khí hậu và thiên nhiên, Đại sứ quán Anh chia sẻ: Việt Nam là quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, tạo nguồn sinh kế ổn định, tạo động lực cho việc thực hiện các mục tiêu hướng đến phát triển bền vững. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên đang bộc lộ giới hạn về hiệu quả và tạo ra những tác động môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, việc chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa vào thiên nhiên không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn mở ra nhiều cơ hội mới cho tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, việc lồng ghép các giá trị của vốn tự nhiên vào quá trình hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển được coi là bước đi quan trọng để đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.

Lựa chọn mô hình tăng trưởng phát huy giá trị vốn tự nhiên

Để giải quyết thách thức, các chuyên gia đề xuất đưa vốn tự nhiên vào hệ thống hoạch định chính sách thông qua các công cụ mô hình hóa kinh tế – môi trường tích hợp.

Mô hình tích hợp kinh tế, môi trường IEEM cho phép kết hợp dữ liệu kinh tế với các chỉ số môi trường trong quá trình dự báo tăng trưởng. Khi kết nối với các mô hình dịch vụ hệ sinh thái không gian như InVEST, hệ thống có thể mô phỏng mối quan hệ hai chiều giữa hoạt động kinh tế và trạng thái của tự nhiên. Cách tiếp cận phân tích các quyết định kinh tế như mở rộng khu công nghiệp, chuyển đổi đất nông nghiệp hay thay đổi chính sách năng lượng được đánh giá không chỉ dựa trên lợi ích tài chính mà còn dựa trên tác động đối với hệ sinh thái. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện sớm các rủi ro môi trường và đưa ra phương án phát triển bền vững hơn.

Vai trò của giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) tập trung vào việc bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên để giải quyết các thách thức kinh tế – xã hội. Ví dụ, phục hồi rừng ngập mặn ven biển có thể giảm thiểu rủi ro bão và xói lở, đồng thời tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương thông qua nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái. Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy mỗi 1 USD đầu tư vào NbS có thể mang lại khoảng 4 USD lợi ích kinh tế dài hạn.

Về các cơ chế tài chính hỗ trợ chuyển đổi xanh, danh mục phân loại xanh quốc gia được ban hành năm 2025 đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các dự án đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn xanh. Bên cạnh đó, Hệ thống giao dịch phát thải (ETS) của Việt Nam đang được triển khai thí điểm, tạo cơ chế định giá carbon và khuyến khích doanh nghiệp giảm phát thải khí nhà kính. Phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng, cho phép các doanh nghiệp bù đắp một phần phát thải bằng cách đầu tư vào các dự án bảo vệ và phục hồi rừng, giúp giảm phát thải và tạo nguồn thu mới cho các địa phương và cộng đồng sống dựa vào rừng.

Theo các chuyên gia, việc lồng ghép thiên nhiên vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là chiến lược kinh tế dài hạn. Bảo vệ hệ sinh thái giúp giảm thiểu rủi ro thiên tai, duy trì nguồn tài nguyên cho sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu ngày càng khắt khe.

 

Nguồn: Trung Nguyên – Báo Nông nghiệp & Môi trường.

Bài viết liên quan
Vì sao Việt Nam chưa cấm được túi nylon, nhựa một lần?

Đại diện Cục Môi trường thừa nhận chính sách hạn chế túi nylon, nhựa một lần chưa đi vào cuộc sống, và đề xuất áp thuế, phí lên các sản phẩm loại này thay vì cấm hẳn. Từ đầu năm nay, theo Nghị định 08/2022, sản phẩm nhựa một lần, bao bì nhựa khó phân […]

Việt Nam khai trương sàn giao dịch carbon trong nước

Sàn giao dịch carbon trong nước là cấu phần mới của hệ sinh thái tài chính xanh, mở ra kênh huy động và phân bổ nguồn lực cho các dự án phát triển bền vững. Ngày 29/6, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lễ khai trương Sàn giao […]

Chuyên gia hiến kế gỡ nút thắt cho hành trình Net Zero của Việt Nam

Hơn 150 chuyên gia, nhà hoạch định chính sách và đại diện 34 “ông lớn” đầu ngành đã cùng ngồi lại tại Hội nghị thường niên của PRO Việt Nam, thảo luận các giải pháp hiện thực hóa mục tiêu Net Zero. Tạm gác cuộc chiến trên thị trường nước giải khát, đại diện Coca-Cola […]

Liên Hợp Quốc: Toàn cầu thải 52 triệu tấn nhựa ra đại dương mỗi năm

Toàn cầu thải hơn 52 triệu tấn rác nhựa ra đại dương mỗi năm, gấp 4-10 lần lượng rác vài năm trước, gây ảnh hưởng tới 4.000 loài sinh vật biển. Ngày 8/6, Liên Hợp Quốc công bố báo cáo Đánh giá đại dương thế giới lần thứ ba, trong đó cảnh báo đại dương […]

PRO Việt Nam tăng tốc thực thi EPR, dự kiến tái chế hơn 60.000 tấn bao bì trong năm 2026

Liên minh Tái chế Bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) vừa tổ chức Hội nghị Thường niên lần thứ 7 với sự tham dự của hơn 150 đại biểu đến từ các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương, cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, trường đại […]